Đã đến lúc Việt Nam cần coi carbon như một thứ hàng hóa?

Theo các chuyên gia đã đến lúc Việt Nam cần coi carbon như một thứ hàng hóa, có quy chuẩn, quy chế trao đổi.

Mới đây, Thủ tướng Chính phủ vừa có văn bản giao Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với Bộ Tài Nguyên và Môi trường nghiên cứu, đề xuất cơ chế áp dụng chỉ số môi trường rừng, chỉ số CO2 theo nguyên tắc địa phương phát triển công nghiệp, phát thải CO2 phải mua chỉ số nay.

Chủ trương chỉ đạo trên của Thủ tướng đã nhanh chóng thu hút sự đồng thuận của các chuyên gia cũng như các cơ quan quản lý. Theo họ đã đến lúc Việt Nam cần coi carbon như một thứ hàng hóa, có quy chuẩn, quy chế trao đổi.

Rừng không chỉ là gỗ, mây, tre, nấm... theo các chuyên gia rừng còn có thêm tài sản là carbon, mà từ trước đến nay chưa đề cập đến. Rừng càng lâu đời lại có giá trị hấp thụ và lưu giữ carbon càng lớn. Thứ tài sản này hoàn toàn có thể bán cho những đơn vị phác thải khí carbon lớn.

Theo chuyên gia, việc lập Bộ chỉ số CO2 của rừng cho từng địa phương sẽ là cơ sở quan trọng để các địa phương và chủ rừng có thể thu tiền từ dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng.

PGS.TS Nguyễn Bá Ngãi - Tổng thư ký Hội chủ rừng Việt Nam cho biết: "Nếu có bộ chỉ số CO2 của rừng có nghĩa là chúng ta đã thừa nhận một loại hàng hóa đặc biệt được tạo ra từ rừng. Giá trị môi trường của nó đã được lượng hóa và được coi như sản phẩm mà người chủ rừng được sở hữu, được quyền bán, được giao dịch và có nguồn thu từ đó...".

Đã đến lúc Việt Nam cần coi carbon như một thứ hàng hóa? - ảnh 1

Rừng không chỉ là gỗ, mây, tre, nấm... theo các chuyên gia rừng còn có thêm tài sản là carbon, mà từ trước đến nay chưa đề cập đến. Ảnh: Dân trí.

Cần xây dựng cơ sở pháp lý cho bộ chỉ số carbon

Chỉ số CO2 của rừng giờ được coi như một thứ hàng hóa, minh chứng là vừa qua Việt Nam đã bán được 10,3 triệu tấn CO2 để thu về trên 51 triệu USD. Việt Nam trở thành quốc gia thứ 5 trên thế giới đầu tiên ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương tham gia thực hiện ký thỏa thuận về chi trả giảm phát thải dựa vào kết quả này.

Theo Hội Chủ rừng Việt Nam nếu áp dụng được bộ chỉ số CO2 thì người trồng rừng có thể thu về từ 1.200 - 1.500 tỷ đồng mỗi năm. Để hiện thực hóa con số này, rất cần có cơ chế pháp lý cụ thể.

Hiện Việt Nam chưa có hạn ngạch về phác thải khí carbon đối với cơ sở sản xuất công nghiệp. Đây chính là điểm nghẽn đầu tiên cần phải xây dựng để có thể tiến tới thu tiền dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng.

Theo tính toán, nếu áp dụng bộ chỉ số CO2 mỗi năm người trồng rừng ở Việt Nam có thể thu thêm từ 1.200 tỷ đồng đến 1.500 tỷ đồng. Chính vì thế việc xây dựng cơ chế quản lý nguồn tiền này như thế nào cũng đang được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn gấp rút chuẩn bị. Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng Việt Nam tiếp tục được uy thác để xây dựng cơ chế trên.

Theo các chuyên gia, cần dán nhãn hàng hóa cho CO2, xác định chủng loại hàng hóa này như thế nào cũng là điều các cơ quan quản lý phải tính đến.

Ý kiến của địa phương về việc thí điểm thu tiền đối với dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng

Trước khi có chỉ đạo trên của Thủ tướng Chính phủ, năm 2019 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã trình Thủ tướng Chính phủ xem xét ban hành Quyết định về thí điểm chi trả dịch vụ môi trường rừng, đối với dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng tại 4 tỉnh là Quảng Ninh, Thanh Hóa, Thừa Thiên Huế và Quảng Nam.

Với công suất dây chuyền sản xuất 5 triệu tấn xi măng/năm như hiện nay, theo nhẩm tính của Nhà máy Xi măng Nghi Sơn (Thanh Hóa), khi chương trình thí điểm được triển khai, mỗi năm doanh nghiệp sẽ phải nộp khoảng 8 tỷ đồng tiền dịch vụ môi trường rừng cho số lượng khí thải C02 phát thải trong quá trình sản xuất.

"Chúng tôi rất ủng hộ chương trình này vì chương trình rất có lợi không những cho hiện tại, mà còn cho tương lai. Chúng tôi mong muốn việc thực hiện được minh bạch, công bằng bình đẳng giữa các doanh nghiệp và giữa chính quyền với doanh nghiệp", ông Nguyễn Thế Hải - Phó Giám đốc Nhà máy Xi măng Nghi Sơn cho biết.

Đã đến lúc Việt Nam cần coi carbon như một thứ hàng hóa? - ảnh 2

Đối tượng phải chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng là tổ chức sản xuất nhiệt điện than và tổ chức sản xuất xi măng gây phát thải khí nhà kính lớn.

Lãnh đạo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thanh Hóa khẳng định, việc triển khai thí điểm thu phí dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng lần này vừa góp phần phát triển rừng, vừa gia tăng thu nhập, tạo thêm sinh kế cho người dân.

Ông Cao Văn Cường - Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Thanh Hóa nói: "Nếu cơ chế này được thực hiện trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa sẽ tạo động lực để cho cấp ủy chính quyền và nhân dân các dân tộc trong tỉnh thực hiện tốt công tác quản lý bảo vệ phát triển rừng. Tạo phong trào trồng rừng rộng rãi trong nhân dân".

Hiện UBND tỉnh Thanh Hóa đã tham vấn ý kiến của 4 nhà máy sản xuất xi măng và Công ty nhiệt điện Nghi Sơn trên địa bàn. Để đảm bảo quyền lợi cho các doanh nghiệp thực hiện thí điểm, UBND tỉnh Thanh Hóa đã có văn bản đề nghị Ban soạn thảo tính toán lại mức chi trả cho phù hợp hơn. Đồng thời xem xét việc số tiền chi trả sẽ được khấu trừ ngay từ năm đầu tiên khi chính sách được phê duyệt áp dụng trong phạm vi toàn quốc.

Theo dự thảo Quyết định thí điểm, đối tượng phải chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ carbon của rừng là tổ chức sản xuất nhiệt điện than và tổ chức sản xuất xi măng gây phát thải khí nhà kính lớn. Mức chi trả là 4 đồng/kWh đối với sản xuất nhiệt điện than và 2.100 đồng/tấn clanh-ke đối với hoạt động sản xuất xi măng và được hạch toán vào giá thành sản phẩm. Dự kiến thu tiền dịch vụ môi trường rừng trong thời gian thí điểm là gần 172 tỷ đồng.

* Mời quý độc giả theo dõi các chương trình đã phát sóng của Đài Truyền hình Việt Nam trên TV Online và VTVGo!

Mời bạn đọc thêm:
Loading...

Bình luận của bạn về bài viết !

Loading...
Loading...